NGÔI MỘ TRỐNG

NGÔI MỘ TRỐNG

Kinh Thánh: Ma-thi-ơ 28:1-7.

Câu gốc: Ma-thi-ơ 28:6 “Ngài không ở đây đâu; Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán. Hãy đến xem chỗ Ngài đã nằm.”

Một tín đồ Hồi giáo nói với một Cơ Đốc nhân rằng: Đáng thương cho các anh là Cơ Đốc nhân, vì Chúa Jêsus của các anh chẳng để lại cho các anh điều gì hơn là ngôi mộ trống! Trong khi giáo chủ của chúng tôi là Muhamad (Ma-hô-mết) để lại cho chúng tôi một ngôi mộ tại thánh đường Al-Masjid – Nabawi. Cơ Đốc nhân trả lời rằng, ngôi mộ trống của Chúa Jêsus chính là niềm vui và sự tự hào của Cơ Đốc nhân vì chúng tôi tin vào Đấng sống, khác với các anh tin nơi một giáo chủ đã chết vẫn còn nằm trong mộ!

Niềm vui lớn nhứt của Cơ Đốc nhân chính là sự phục sinh của Chúa Jêsus. Dầu sự kiện nầy được nhắc đi nhắc lại suốt 2000 năm qua, nhưng mỗi khi kỷ niệm Chúa Jêsus phục sinh, lòng tôi con Chúa vẫn trào dâng niềm vui và sự tự hào vì mình đã tin Đấng sống, như Phúc Âm Ma-thi-ơ 28:6 chép: “Ngài không ở đây đâu, Ngài sống lại rồi!” Hiện nay, Chúa Jêsus chỉ còn để lại trên đất một ngôi mộ trống.

Nhân Lễ kỷ niệm Đức Chúa Jêsus Christ Phục sinh với đề tài NGÔI MỘ TRỐNG, chúng ta cùng học qua ba phần như sau:

  1. BIẾN CỐ TẠO RA NGÔI MỘ TRỐNG.

“Sau ngày Sa-bát, ngày thứ nhất trong tuần lễ, lúc tưng tưng sáng, có Mari Ma-đơ-len và Ma-ri khác đến thăm mộ. Và nầy, đất rúng động dữ dội, vì có thiên sứ của Chúa ở trên trời xuống, đến lăn hòn đá ra mà ngồi ở trên. Hình dong của thiên sứ giống như chớp nháng, và áo trắng như tuyết. Vì đó, những lính canh sợ hãi run rẩy, trở nên như người chết.” (Ma-thi-ơ 28:1-4).

Qua các câu Kinh Thánh trên, chúng ta biết rằng biến cố tạo ra ngôi mộ trống là:

  1. Có động đất lớn và thiên sứ xuất hiện.

Cửa mộ có hòn đá lớn lắm lắp lại, có lính canh giữ cẩn thận. Nhưng thiên sứ của Chúa xuất hiện, khiến “đất rúng động dữ dội”, ai cũng đều sợ hãi, nhất là các lính canh, “run rẩy sợ hãi, trở nên như người chết” (Ma-thi-ơ 28:4). Riêng các nữ môn đồ, mặc dầu cũng rất sợ, nhưng vì lòng kính yêu Chúa, họ vẫn ở đó. Giữa những biến động ấy, họ vẫn có thể lắng nghe lời thiên sứ báo tin Chúa sống lại. Thật vậy, chỉ có lòng yêu kính Chúa mới giúp con dân Chúa trung thành theo Chúa tới cùng, dầu có trải qua bao nhiêu biến thiên, hoạn nạn, bách hại. Hiện có không ít tôi con Chúa sống trong những nơi bị bách hại, thường xuyên đối diện với hiểm nguy chết chóc, nhưng nhờ sức Chúa ban họ vẫn đứng vững. Xin Chúa giúp chúng ta vững vàng đức tin trước mọi biến động của thế giới và đổi thay của xã hội để luôn kính yêu, trung thành theo Chúa cho đến khi gặp mặt Chúa.

  1. Chúa sống lại trong ngày thứ nhứt của tuần lễ.

Trước khi Chúa phục sinh, các ngày trong tuần lễ gọi theo số thứ tự, từ thứ nhứt đến thứ bảy. Nhưng khi Chúa Jêsus phục sinh vào ngày thứ nhứt, thì các môn đệ gọi ngày thứ nhứt là Ngày của Chúa (hay Chúa nhựt/Chủ nhựt). Sự kiện Chúa Phục sinh xảy ra như vầy:

“Lúc tưng tưng sáng, có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác đến thăm mộ. Và nầy, đất rúng động dữ dội, vì có thiên sứ của Chúa ở trên trời xuống, đến lăn hòn đá ra mà ngồi ở trên” (Ma-thi-ơ 28:1,2). Lúc tưng tưng sáng của xứ Palestin là khoảng thời gian trước khi mặt trời mọc, nên Mác viết là “tờ mờ sáng.” Còn sứ đồ Giăng thì nói “trước khi rạng đông” có các nữ môn đồ đem hương liệu đến mộ để xức xác Đức Chúa Jêsus, nhưng họ bối rối ai sẽ lăn hòn đá lớn lấp cửa mộ ra giúp họ (Ma-thi-ơ 27:62-66). Nhưng khi đến mộ thì ngạc nhiên thay, cửa mộ đã mở toang! Sự hiện diện của các nữ môn đồ cho thấy họ đầy lòng kính yêu Chúa, đã theo sát Chúa từ chân thập tự cho đến lúc tưng tưng sáng tại ngôi mộ trống. Chính các nữ môn đồ là chứng nhân đầu tiên về ngôi mộ trống của Chúa Jêsus.

  1. NGÔI MỘ TRỐNG XÁC CHỨNG CHÚA SỐNG LẠI.

Mặc dầu Chúa đã phục sinh gần 2000 năm qua, và cũng đã có hằng tỉ người tin thờ Chúa phục sinh. Nhưng vẫn còn 2/3 nhân loại ngờ vực chưa tin, nên tôi con Chúa cần có các chứng cứ xác đáng về Chúa sống, để làm cơ sở chia sẻ niềm tin cho người chưa tin đang chối bỏ và chống nghịch Ngài. Sau đây, chúng ta nói về các chứng cứ Chúa sống.

  1. Nội chứng. Gồm có:

Mạc khải của Gióp: “Còn tôi, tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống, đến lúc cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất” (Gióp 19:25).

Chúa Jêsus nhiều lần nói về sự chết và sống lại của Ngài: “Từ đó, Đức Chúa Jêsus mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giê-ru-salem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại… Họ sẽ nộp Ngài cho dân ngoại hầu để nhạo báng, đánh đập, và đóng đinh trên cây thập tự; đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại” (Ma-thi-ơ 16:21, 17:23, 20:19).

Các sứ đồ làm chứng: Từ các sách Phúc Âm đến các thư tín của sứ đồ Phao-lô đều xác chứng Chúa sống lại rồi. Sứ đồ Thô-ma vốn là người theo chủ nghĩa hoài nghi, nhưng sau khi chứng kiến dấu đinh nơi tay, chơn và dấu giáo nơi hông Chúa, ông bị bắt phục. Sau đó ông đi rao giảng Chúa sống và tuận đạo ở Ấn Độ. Chính các lính La Mã canh mộ Chúa dầu bị lãnh đạo Do Thái giáo mua chuộc, nhưng họ cũng xác nhận Chúa Jêsus thật đã sống lại. Hầu hết các sứ đồ đều dùng chính sinh mạng mình xác chứng cho sự kiện Chúa phục sinh.

  1. Ngoại chứng.

Ngoại chứng Chúa phục sinh cũng có rất nhiều, mặc dầu ngay từ buổi sáng phục sinh đầu tiên, các lãnh đạo Do Thái giáo đã hối lộ toán lính canh mộ để họ tung tin các môn đệ đã đánh cắp xác Chúa. Nhưng tin tức đó không thể đứng vững vì ăn cắp rồi đem đi giấu ở đâu cho khỏi bị bại lộ. Hơn nữa, bản tánh của Cơ Đốc nhân không bao giờ ăn cắp!

Sau đó còn nhiều tin thất thiệt về Chúa phục sinh nữa, như các môn đệ đi thăm nhằm mộ rồi tung tin Chúa sống lại rồi. Nếu vậy, kẻ thù của Chúa chỉ cần chỉ ra ngôi mộ đúng là lật mặt các môn đệ ngay!

Kẻ thù còn tung tin các môn đệ quá thương Chúa Jêsus, nên ảo giác thấy Chúa rồi tung tin Chúa sống lại! Nhưng về tâm lý thì không có ảo giác tập thể giống nhau, nên không ai tin giả thuyết nầy.

Vào thế kỷ 18, có một học giả người Đức tên Strauss, đưa ra giả thiết chối bỏ Chúa phục sinh nghe có vẻ hợp lý. Strauss nói rằng Chúa Jêsus chỉ ngất xỉu chứ chưa chết thật, nên khi đưa vào thạch mộ mát mẻ, Chúa tỉnh lại rồi tự đẩy tảng đá lấp cửa mộ đi ra, sau đó các môn đệ tung tin Chúa sống lại! Điều nầy càng vô lý vì với một thân thể dập nát, tay chân bị đinh đóng, mất hết máu làm sao tỉnh lại? Giả dụ Chúa tỉnh lại, cũng không thể đẩy nổi tảng lấp cửa mộ để đi mà không bị toán lính phát hiện. Lại nữa, Chúa tỉnh lại đi ra rồi đâu mà không bị mọi người phát hiện? Nên giả thuyết nầy hoàn toàn sai bậy.

Thống kê cho thấy có hơn 80% các nhà bác học lỗi lạc 4 thế kỷ 17-20 tin vào Chúa. Ngoài ra còn có hơn 1/3 nhân loại tin Chúa Jêsus. Do đó những người chối Chúa là do “sự ngu muội ở trong họ, và vì lòng họ cứng cỏi nên trí khôn tối tăm, xa cách sự sống của Đức Chúa Trời. Họ đã mất cả sự cảm biết, đành bỏ mình trong một đời buông lung, đem lòng mê đắm không biết chán mà phạm hết mọi điều ô uế…” (Ê-phê-sô 4:18,19). Kể từ khi Chúa sống lại, ngôi mộ an táng xác Chúa đã bị bỏ trống, và nó đã trở thành một chứng tích trong ký ức của nhân loại.

III. NGÔI MỘ TRỐNG TRONG KÝ ỨC NHÂN LOẠI.

Sau khi Chúa sống lại, Ngài trở thành Chúa của sự sống, cầm quyền tể trị trên sự chết và Âm phủ. Tử thần vô quyền đối với Chúa và con dân Chúa. Ngôi mộ trống từ đó đã trở thành một chứng tích về Chúa phục sinh mà ký ức nhân loại không bao giờ quên. Khi hồi ức về ngôi mộ trống, nhân loại thường có một trong hai thái độ như sau:

  1. Bị bắt phục tin Chúa được sự sống đời đời.

Ngày nay, ảnh hưởng của sự phục sinh của Chúa Jêsus không chỉ có ở trong thế giới vật lý, mà còn ở trong thế giới tâm linh, khiến cho Sa-tan ma quỉ khiếp sợ trước uy quyền của Đấng Sống: “Ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng, là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và Âm phủ” (Khải huyền 1:18,19). Người cầm chìa khóa tức là người có quyền. Thật vậy, chỉ Chúa Jêsus là Đấng có quyền trên sự chết và Âm phủ. Do đó bất cứ ai tin thờ Chúa Jêsus, thì tội được tha linh hồn được cứu, như lời Chúa hứa: “Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó” (Giăng 3:36). Người tin Chúa sẽ thoát khỏi sự đoán phạt hiện tại và tương lai: “Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Rô-ma 8:1). Trái với ký ức tốt đẹp của những người tin thờ Chúa phục sinh là thái độ của những kẻ:

  1. Cứng lòng chối bỏ Chúa bị hư mất đời đời.

Hầu như đa số những người chối bỏ Chúa đều có ký ức và nhận thức về Chúa Jêsus. Từ sự phục sinh của Chúa cho đến ngày nghỉ Chúa nhựt và nhiều lãnh vực khác nữa như: văn chương, triết học, khoa học, đạo đức học, mỹ thuật, âm nhạc, kịch nghệ… nhứt là ngôi mộ trống tại xứ Palestin vẫn còn lưu giữ cách cẩn thận… Tất cả đã in sâu vào ký ức nhân loại. Chỉ do lòng cứng cỏi, trí tối tăm, xa cách sự sống Chúa nên nhiều người không tin Chúa. Con người ngày nay rất “ham nghe những lời êm tai, theo tư dục mà nhóm họp các giáo sư xung quanh mình, bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn” (II Ti-mô-thê 4:3,4).

Riêng tôi con Chúa, khi hồi ức về ngôi mộ trống đã thôi thúc con dân Chúa hết lòng làm chứng về Chúa Phục sinh để cứu vớt nhiều người đang hư mất; đồng thời cũng mạnh mẽ tuyên bố: “Chúa đã sống lại.” Đời sống bày tỏ cho thế nhân thấy: “Chúa đang sống trong lòng nầy” (TC. 111). A-men!

Comments are closed.